Online: 2 | Yesterday: 1297    
 

Rùa lá Mata Mata

 

 Rùa lá Mata Mata: Là một trong những loài rùa cổ đại còn lại trên trái đất. Chúng là loài rùa có hình dạng vô cùng ấn tượng và độc đáo, chính vẻ ngoài đặc biệt đó khiến chúng trở thành bậc thầy ngụy trang ngay từ khi mới sinh ra. Khi nhỏ trông như một chiếc lá khô nhưng khi lớn lên, trông chúng lại nhưng một tảng đá hay một khúc gỗ vô tri, bất động. Tuy vậy loại rùa này lại chứa đựng những điều thú vị rất khác biệt và trở thành một thú nuôi thuộc diện hot nhất hiện nay...

 Lịch sử loài: Rùa lá Mata Mata còn có tên gọi theo tiếng thổ dân bản địa chỉ Matamata, tên khoa học là Chelus fimbriata. Chúng được tìm thấy tại khu vực sông Amazon và Orinoco và là loài rùa duy nhất trong chi rùa Chelus. Khu vực sinh sống tự nhiên: Bắc Bolivia, đông Peru, Ecuador, đông Colombia, Venezuela, The Guianas, Brazil.

 

 

 Rùa lá Mata Mata có sức sống khá khỏe mạnh thậm chí là dai dẳng. Tuy vậy chúng lại là những sinh vật ít vận động, điều này dễ lý giải bởi chúng là loài vật sống ngụy trang hoàn hảo để săn mồi cũng như lẩn trốn kẻ thù. Chiếc mũi dạng ống dài và nằm hướng lên trên là một lợi thế cho rùa Mata bởi chúng có thể nằm hoàn toàn trong nước mà vẫn có thể hô hấp chỉ với một phần rất nhỏ nhô lên của lỗ mũi, điều này khiến con mồi trong nước và các sinh vật trên mặt đất khác khó có thể phát hiện ra chúng. Không chỉ có chiếc mai với hình lá rất đặc biệt (khi trưởng thành chiếc mai này lại trông như mảnh gỗ hay tảng đá đáy sông), toàn bộ thân rùa Mata có những tua nhỏ và màu sắc cũng rất hài hòa với môi trường xung quanh, điều này càng làm hoàn hảo thêm khả năng ngụy trang tuyệt vời của chúng.
 Khi trưởng thành, rùa lá Mata Mata có thể đạt được kích thước mai 45 cm, trọng lượng 15 kg hoặc thậm chí là hơn thế. Đồng thời hình dạng của chúng cũng thay đổi theo, từ hình chiếc là cây với màu vàng đỏ thành khúc gỗ nâu vàng gồ ghề rất dữ dằn, ấn tượng (mặc dù rùa Mata khá hiền lành), chính vẻ ngoài dũng mãnh đó đã khiến rất nhiều người nuôi yêu thích chúng.

 Thức ăn và tập tính săn mồi: rùa lá Mata Mata ăn các loài cá nhỏ, côn trùng và các sinh vật nhỏ sống trong nước khác. Như đã nói ở trên, chúng săn mồi dựa vào khả năng ngụy trang độc đáo nhưng cũng rất hiệu quả bằng cách nằm yên gần như tuyệt đối và hòa lẫn vào môi trường xung quanh nhờ hình dạng đặc biệt của mình, vì thế mà con mồi không thể phát hiện ra chúng. Khi một con mồi vô tình đến lại gần, rùa lá Mata sẽ đẩy nhanh cái đầu của mình ra phía trước và há rộng miệng tối đa (cũng như loài rắn, chúng không có hàm cố định nên có thể mở rộng miệng về các phía cực nhanh). Miệng của chúng có thể mở rộng và nhanh đến nỗi làm cho áp suất nước trong khoang miệng tụt giảm đột ngột và cuốn theo con mồi vào miệng, đây cũng là cách săn mồi mà loài cá voi khổng lồ thực hiện.

 Giá: 2.970 k / size baby 5.5 - 6 cm

 

 

 Mata Mata – Chelus fimbriatus
 The mata mata was described for the first time by French naturalist Pierre Barrère in 1741 as a "large land turtle with spiky and ridged scales" (translation). It was first classified as Testudo fimbriata by German naturalist Johann Gottlob Schneider in 1783. It was renamed 14 different times in 2 centuries, finally being renamed Chelus fimbriata in 1992.

 Anatomy and morphology: The mata mata is a large sedentary turtle that has a large triangular flattened head characterized with many tubercles and flaps of skin and a "horn" on its long and tubular snout. There are three barbels on the chin and four additional filamentous barbels at the upper jaw, which is neither hooked nor notched.

 The mata mata's brown or black oblong carapace can measure up to 45 cm (18 in) at adult age. The full adult weight is 15 kg (33 lb). The mata mata's plastron is reduced, narrowed, hingeless, shortened towards the front, and deeply notched at the rear with narrow bridges. The plastron and bridges are cream to yellow or brown.

 The head, neck, tail, and limbs are grayish brown on adults. The neck is longer than the vertebra under its carapace and is fringed with small skin flaps along both sides. Hatchlings show a pink to reddish tinge in the underside edge of their carapace and plastron that gradually disappear as they grow.

 Each forefoot has five webbed claws. Males have concave plastrons and longer, thicker tails than females.

 Habitat: The mata mata inhabits slow moving, blackwater streams, stagnant pools, marshes, and swamps ranging into northern Bolivia, eastern Peru, Ecuador, eastern Colombia, Venezuela, the Guianas, and northern and central Brazil. The mata mata is strictly an aquatic species but it prefers standing in shallow water where its snout can reach the surface to breathe.

 Behavior The appearance of the mata mata's shell resembles a piece of bark, and its head resembles fallen leaves. As it remains motionless in the water, its skin flaps enable it to blend into the surrounding vegetation until a fish comes close. The mata mata thrusts out its head and opens its large mouth as wide as possible, creating a low-pressure vacuum that sucks the prey into its mouth, known as suction feeding. The mata mata snaps its mouth shut, the water is slowly expelled, and the fish is swallowed whole; the mata mata cannot chew due to the way its mouth is constructed.

 Reproduction: Males display for females by extending their limbs, lunging the head toward the female with mouth agape, and moving the lateral flaps on the head. Nesting occurs from October through December in the Upper Amazon. The 12 to 28 brittle, spherical, 35 mm (1.4 in) diameter eggs are deposited in a clutch.

 Diet: The mata mata is carnivorous, feeding exclusively upon aquatic invertebrates and fish.

 In captivity: Mata mata turtles are readily available in the exotic pet trade and are quite expensive to obtain. Due to their unique appearance, they make interesting display animals. They also grow quite large. However, mata matas are not active hunters, so, like the alligator snapping turtle, they need less space than a large, active species.As with all aquatic turtles, water quality is one of the keys to keeping this species successfully in captivity. Warm, acidic water is the best type used with a high tannin content that should be maintained all year round. Moderate to heavy filtration is recommended.

    Height: 2.25" (5.72 cm)
    Width: 3.25" (8.26 cm)
    Length: 7" (17.78 cm)
    Genus: Chelus
    Species: fimbriatus
    Origin: South America




 

Họ tên
Email
 

244 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội   04. 22150808 * 0903 22 9693   
Y!M: SanPhamSangTao

977 Trần Hưng Đạo, Q.5, tp.HCM   0907.208.666
Y!M: lemonshoponline